Điểm mấu chốt: Vô tư
Lợi ích con nhận được: Hạnh phúc và niềm vui
Bài học cho mẹ: Người mẹ đích thực biết để tạo ra một gia đình hạnhh phúc cần có sự vô tư và chân thành: những khoảnh khắc cười vui đơn giản. Hãy để cho con bạn thấy bạn vô tư và thư giãn hơn. Điều đó sẽ mang đến cho đứa trẻ những ký ức yêu thương về một ngôi nhà tràn ngập tiếng cười và một người mẹ luôn vui vẻ. Nó cũng dạy cho bạn một trong những bài học hay nhất về sự kiên cường: hãy cười và tận hưởng cuộc sống.
“Cô ấy nhận ra rằng giá trị gia đình mình cần thời gian để vui vẻ”
Chúng ta nên coi mỗi ngày chúng ta không khiêu vũ một lần là một ngày bị lạc mất. Và chúng ta nên gọi mọi sự thật là giả dối khi mà nó không đi kèm với ít nhất một tiếng cười.
Từ khoảnh khắc thử thai cho kết quả dương tính, Ruth Ginsberg đã lập tức hành động. Tất nhiên là cô vui mừng khôn xiết: cô và chồng mình đã mong có con trong bốn năm trời, nhưng cô cũng không thể không lo lắng. Cô đã nghiền ngẫm hàng tá sách dạy cách trở thành một bà mẹ hoàn hảo và đã hỏi tất cả những người mà cô biết về lĩnh vực này, cũng như tìm kiếm trên mạng những nghiên cứu gần nhất và những xu hướng về nuôi dạy trẻ.
Đầu tiên cô gọi cho chồng mình, David.
“Nhanh lên anh yêu, gọi cô Rodeph Shalom đi. Chúng ta cần có một suất ở lớp dự bị tiểu học năm 2010 trước khi quá muộn”
Sau đó cô gọi cho người giám sát của cô ở Morgan Stanley, nơi cô làm kỹ thuật bảy năm nay, để xin thôi việc.
Tối hôm đó Ruth và David đã làm một hiệp ước trọng thể rằng sẽ trở thành cặp bố mẹ tốt nhất, để cho đứa trẻ của mình những cơ hội tốt nhất phát triển tối đa khả năng của nó, mang đến mọi trải nghiệm giúp đứa trẻ có nhiều khả năng thành công hơn trong cuộc đời mà không phải dành quá nhiều tiền, thời gian hay năng lượng cho việc theo đuổi hạnh phúc và thành quả của đứa trẻ. Sau khi thức cả đêm say sưa lập kế hoạch cho tương lai, David muốn đi ngủ trước còn Ruth thì khăng khăng đòi bật đĩa nhạc của Mozart, “Eine Kleine Nachtmusik”.
“Đừng lo anh yêu”, Ruth giải thích. “Em đã đọc tất cả những nghiên cứu liên quan và chúng nói rằng nghe nhạc của Mozart giúp đứa trẻ thông minh hơn.”
Sau khi Sarah ra đời, Ruth yêu con bé đến mức cô quyết tâm thực hiện hiệp ước mà cô và David đã làm. Cô bắt đầu viết tên những vật dụng xung quanh con mình lên những tờ giấy nhớ và dán chúng khắp nhà. Khi David về nhà và chỉ muốn ngồi xuống, anh phải bóc tờ giấy gắn trên ghế, trên đèn bàn, trên TV. Khi Sarah được sáu tháng tuổi, cô đọc “As You Like It” của Shakespeare cho con bé và giơ lên những tấm thẻ Baby Einstein trước mặt nó.
Vào những dịp hiếm hoi khi cô và chồng mình phải ra khỏi nhà cùng một lúc, cô sẽ thuê Lupe ở tầng hai trông con giúp. Cô cũng hướng dẫn Lupe chỉ nói tiếng Tây Ban Nha để Sarah có thể học được ngôn ngữ thứ hai.
Tất cả những cố gắng của Ruth cũng được đền đáp. Trước khi con cô được một tuổi, quyển sách thiếu nhi của Sarah đã đầy kín những chữ cô bé học được. Trước khi lên ba tuổi, nhờ có bộ “Ngữ âm hấp dẫn” khổng lồ của Sam’s Club, Sarah đã biết đọc. Ngoài học ở lớp dự bị tiểu học (ở chỗ Rodeph Shalom, hẳn là thế rồi) Sarah còn đăng ký cả các lớp bồi dưỡng nghệ thuật, đàn violin theo phương pháp Suzuki, và tiền thể hình.
Mọi thứ đều đi theo kế hoạch. Tất cả bạn bè và các gia đình họ quen đều khen ngợi những cố gắng siêu phàm của cặp đôi này khi giúp cho đứa trẻ của họ vượt trội hơn người. Nhưng sau đó Ruth phát hiện ra cô lại có thai lần nữa. Cô lo về việc làm thế nào mà cô bắt kịp được với gấp đôi lượng công việc. David vô cùng lo lắng về tiền cho những lớp học và những chương trình đặc biệt đó. Đồng thời, việc làm thêm giờ, làm thêm bên ngoài sẽ khiến anh luôn không ở nhà.
Khi cậu con trai Jonathan ra đời, gia đình Ginsberg lại càng rối ren hơn. Ngoài học chính khóa trên trường, Sarah còn phải đi tới đi lui những buổi tập và thi đấu bóng đá, lớp học violin, ngâm thơ, lớp ba lê. David ở ngoài cả ngày và hầu như tối nào cũng không về khiến Ruth luôn bận rộn với cả hai đứa trẻ đến mức cô thường buồn ngủ trước 9 giờ và kiệt sức cả cuối tuần. Họ không có thời gian rãnh để ngồi xuống và cùng nhau ăn bữa ăn gia đình thoải mái nào. Mọi thứ đều vội vã. Chỉ có một ưu tiên là “Nó có tốt cho bọn trẻ không?”
Khi bọn trẻ lớn hơn, tình trạng ngày càng tồi tệ đi. “Sarah thể hiện tài năng nổi bật và thuần thục với các bản nhạc soạn cho violin của Bach,” cô giáo dạy nhạc của cô bé nói lại. “Với khả năng âm nhạc cũng như trình độ như thế, con bé sẽ được chính thức biểu diễn trong dàn nhạc”.
“Nếu Sarah vẫn tiếp tục chơi tốt như bây giờ” huấn luyện viên của cô bé nói với họ, “con bé có thể dễ dàng có được suất học bổng thể thao vào đội bóng Division I.”
“Sarah thực sự là một đứa trẻ đặc biệt,” Ruth và David đang nghe cô giáo khoa học lớp tám của cô bé nói. “Con bé hoàn toàn có khả năng vào được Ivy League.”
Ruth và David rất tự hào về những gì họ đã làm được với vai trò làm cha mẹ. Họ đã hoàn thành những mục tiêu cho con mình. Nhưng ngay khi họ ước là học có thể nhẹ nhõm được thì áp lực chỉ càng tăng lên. Với cơ hội Sarah có thể vào được Ivy League, họ đăng ký cho cô bé vào những lớp học thêm đặc biệt và những buổi tập riêng với huấn luyện viên. Quyết tâm giúp con thành công chỉ khiến họ tạo thêm áp lực, dẫn đến vô số cuộc cãi vã về vấn đề tài chính và thậm chí họ phải từ bỏ cả những buổi dã ngoại gia đình hiếm hoi.
Khi Sarah được trường Dalton, trường dự bị đại học hàng đầu Manhattan, nhận vào học, bố mẹ cô bé rất hân hoan, nhưng Sarah thì đi ngủ sớm vì lại bị đau nửa đầu. David rất lo và gợi ý với vợ là họ nên dành chút thời gian bên nhau, có thể là lái xe ra ngoài thành phố và nghỉ cuối tuần ở Atlantic City.
“Cái gia đình này chưa có một ngày nghỉ nào với nhau hàng năm nay rồi, Ruth,” David nói.
“Em biết, anh yêu, nhưng giờ chưa phải lúc. Sarah còn có buổi tập bóng đá thêm giờ vào thứ bảy và một buổi ngâm thơ lớn vào chủ nhật.”
Khi Sarah học tiểu học, cô bé được bầu làm lớp trưởng và làm biên tập cho niên san của trường. Những hoạt động ngoại khóa, cùng với những buổi học nhạc và tập bóng đá khiến cô bé phải ở lại trường sau giờ học cho đến ít nhất là 5 giờ hằng ngày, đôi khi 7 đến 8 giờ tối Sarah mới về được nhà và lại bắt đầu học bài tiếp. Đó là lúc chứng đau nửa đầu ở cô bé xuất hiện, ít nhất một đến hai lần trong tháng.
Đầu những năm học trung học là khoảng thời gian điên rồ. Đơn xét tuyển đại học, bài thi SAT cuối, đi phỏng vấn tại hết trường này đến trường khác, tham gia hoạt động cộng đồng để viết vào hồ sơ, viết bài luận, vẫn đảm bảo việc học trên lớp, rồi thể thao, âm nhạc lấy đi mọi giây trong ngày của Sarah. David để ý thấy con mình sút cân và dường như hoàn toàn không có chút đời sống xã hội nào. Nhưng giây phút Sarah được tuyển thẳng vào Harvard, tất cả những hi sinh dường như đều xứng đáng. Hiệp ước đã được đền đáp. Ruth khóc vì sung sướng. Cuộc đời Sarah bé nhỏ của họ đã được định đoạt.
Đêm muộn hôm đó, David và Ruth ngồi trên chiếc ghế dài cũ cùng uống rượu chúc mừng và xem lại những bức ảnh chụp gia đình với nhau. Họ xem qua hàng tá những bức ảnh con gái mình với tất cả những vinh quang, cúp, giải thưởng. Đột nhiên David dừng lại và nhìn lên với vẻ mặt đau khổ.
“Gì thế, David?” Ruth hỏi.
“Anh vừa để ý đến một điều. nhìn vào những bức ảnh này đi, Ruth. Sarah thậm chí chỉ có cười không, có mỉm cười không, con bé nhìn có hạnh phúc không? Có sự vui vẻ nào trên mặt con bé bao giờ không? Không, nhìn nó trống rỗng, như thể nó còn không đứng ở đó”.
“Em biết lúc đó rất căng thẳng, David. Có sự căng thẳng trên mặt con bé và cả chúng ta nữa. Nhưng nó đã làm được. Nó đã vào được top các trường hàng đầu của cả nước. Giờ tất cả những gì chúng ta phải lo là Jonathan.”
Nhưng hóa ra nó không phải là vậy. Sau mùa hè thực tập ở một phòng thí nghiệm kỹ thuật di truyền địa phương, Sarah đóng gói sách và lên tàu ở Grand Cental rời khỏi nhà lần đầu tiên trong đời. Khoảng hơn một tháng, Ruth và David nhẹ nhõm chỉ tập trung vào Jonathan. Sarah đi, họ bắt đầu nhận ra rằng Jonathan có suy nghĩ của mình. Thằng bé từ chối tham gia đội bóng rổ trường trung học dù nó có chiều cao lý tưởng và huấn luyện viên đã cố chiêu mộ nó. Thằng bé cũng nói tất cả với bố mẹ những hoạt động vì cộng đồng, giúp đỡ người vô gia cư để thêm vào hồ sơ của nó chỉ khiến nó không thể đi chơi với bạn bè của mình.
“Nhìn này mẹ, con được điểm cao rồi đấy. Con đã dùng hết nảo của mình rồi, nên hãy cho con thời gian nghỉ ngơi. Con cần thời gian cho riêng mình chứ không muốn kết cục như Sarah?”
“Ý con là sao? Sarah đang học ở Harvard. Con nên giỏi như chị mình thì hơn.”
“Chắc rồi mẹ. Chị ấy còn không cả nặng đến 45 cân, và con thì không thể nhớ được lần cuối mình nghe thấy chị ấy cười là khi nào. Và hãy nghĩ đi mẹ, con cũng chẳng thể nhớ lần cuối con nghe thấy bất cứ ai trong gia đình này cười là khi nào. Tất cả những gì con nhớ về thời gian lớn lên trong cái gia đình này là học, học, học, làm việc, làm việc và làm việc, cố theo kịp cái lịch trình ngu ngốc mẹ đã đặt ra cho bọn con.”
Ruth gạt đi mối lo ngại của con trai, nhưng chỉ một tuần sau, có một cuộc gọi đường dài từ phòng y tế của đại học Harvard ở Cambridge. Lúc đó là 11 giờ đêm và giọng ở đầu dây bên kia khá nghiêm trọng.
“Bà Ginsberg?”
“Vâng.”
“Đây là bác sĩ Rubicon. Tôi xin lỗi vì phải làm phiền bà giờ này nhưng tôi thực sự cần nói chuyện với bà về con gái bà.”
Ruth phải ngồi xuống và chuyển điện thoại qua cho chồng mình. David ngồi im lặng nghe bác sĩ giải thích. Sáng sớm hôm đó bạn cùng phòng của Sarah đã phải mang cô đến đấy để xin giúp đỡ. Sarah đã phải chịu đựng những cơn đau nửa đầu liên tục trong suốt hai tuần gần đây, cô bé không ăn nổi và cũng không thể ngủ. “Cậu ấy nói là cậu ấy cảm thấy bị quá sức, khóc suốt và nói là không thể học nổi nữa.”
“Đây có thể là một dạng khủng hoảng của sinh viên năm nhất điển hình, ông Ginsberg, nhưng tôi khá lo ngại về khả năng bị trầm cảm và các vấn đề sức khỏe liên quan đến cô bé khi không ăn uống được gì lâu như vậy. Tôi muốn giữ cô bé lại vài ngày để đảm bảo ít nhất là cô bé uống được chút nước và ăn được chút gì đó.”
Ruth nghe mọi điều bác sĩ nói và đột ngột hỏi xen vào, “Nhưng nó không thể nghỉ học được, việc đó có thể hủy hoại cả học kỳ của con bé.”
David kinh hãi nhìn vợ. Bác sĩ đáp lại ngay, “Bà Ginsberg, có những thứ quan trọng hơn là học kỳ đại học. Sức khỏe và hạnh phúc tương lai của con gái bà mới là điều phải quan tâm và đó là ưu tiên của chúng ta.”
Có một sự im lặng chết người trong căn phòng sau khi David cúp máy. Anh liên tục bị ám ảnh bởi những bức ảnh vô hồn chụp con gái mình trong cả năm vừa qua. Còn Ruth thì lúc nào cũng văng vẳng bên tai câu nói của Jonathan.
“Con chẳng thể nhớ lần cuối con nghe thấy bất cứ ai trong gia đình này cười là khi nào.”
“Sao?” David hỏi. “Em nói gì vậy?”
“Jonathan đã nói thế với em tuần trước và nó đã đúng.”
Đêm đó, lần đầu tiên trong 18 năm, Ruth và David phải xem lại cái hiệp định lớn lao kia.
Một tuần sau, họ lái xe đến Cambridge cùng với Jonathan để đón Sarah, vừa được bác sĩ Rubicon theo dõi xong để ra ngoài ăn uống và đi xem phim. Khi họ tay trong tay về ký túc xá của con bé, Jonathan để ý thấy những hình trang trí da cam và đen với vô số bí đỏ khắp nơi.
“Halloween sắp đến rồi. Đi mua mặt nạ thôi.”
Nếu như là trước ngày hôm nay, Ruth và David sẽ coi thế là mất thời gian. Nhưng hôm nay thì khác. Họ gật đầu tán thành với nhau và theo Jonathan vào cửa hàng đồ hóa trang. Jonathan chọn đầu tiên – Người Dơi, vị anh hùng thời thơ ấu của cậu. David thì chọn làm Richard Nixon. Sau một hồi lựa chọn cẩn thận, Sarah chọn Cinderella. Rồi cả ba nhìn Ruth, tò mò không biết cô định làm gì.
Cuối cùng, sau một lúc tằng hắng, Ruth đã bắt đầu đi vòng quanh cửa hàng và chọn một chiếc mũi đỏ to và một bộ tóc giả sặc sỡ.
“Mẹ định thành gì?”
Ruth chầm chậm đeo cái mũi giả và đội bộ tóc giả điên rồ lên đầu rồi cười.
“Mẹ là một chú hề. Mẹ yêu các con nhiều lắm, và giờ mẹ biết phần quan trọng nhất mà mẹ phải làm là giúp cả nhà mình được cười vui. Con có nghĩ là đến lúc rồi không?
Đến lúc rồi. Họ đã vui vẻ và lần đầu tiên họ có thể nhớ là họ đã cùng nhau cười. Niềm vui lại đến với gia đình này lần nữa và Ruth thề là sẽ giữ mãi như thế.
Người mẹ đích thực học được gì từ câu chuyện này?
Ruth Ginsberg và chồng mình, David, đã rất chăm chỉ làm việc, và là cặp bố mẹ tận tụy yêu con vô cùng. Họ muốn con mình có nhiều trải nghiệm và cơ hội thành công hơn bố mẹ của họ đã từng cho họ. Thế nên không ngạc nhiên là họ đã hết mình, làm hẳn một hiệp ước yêu cầu những hy sinh khổng lồ và nó khiến họ phải từ bỏ nhiều niềm vui và thư giãn trong cuộc sống hàng ngày.
Tất nhiên, đứa con đầu của họ, Sarah đã hoàn thành giấc mơ và kỳ vọng ngông cuồng nhất của họ. Con bé không chỉ thành công mà còn xuất sắc ở mọi nhiệm vụ nó được giao. Nhưng rõ ràng là con bé đã phải trả cái giá rất cao. Bố mẹ nó đã không nhìn thấy điều đó, nhưng Jonathan đã luôn nhận ra chứng đau nữa đầu và sự vô cảm đang khiến cho cuộc sống của chị mình thêm khó khăn. Sarah đã được quan tâm và định hướng quá nhiều bởi bố mẹ và cô bé không hề biết mình thực sự là ai và không thể đương đầu với bất kỳ điều gì mà không có bố mẹ.
Phải đến khi Sarah rời khỏi nhà và tự mình chiến đấu để sinh tồn, Ruth mới nhận ra phạm vi của vai trò làm mẹ. Cô đã làm tốt theo nhiều phương diện. Con gái cô đã đi một con đường đúng đắn và sẽ có một sự nghiệp thành công. Nhưng Ruth cần cho con gái mình thứ gì đó khác và có thể thậm chí còn quan trọng hơn: niềm vui, ký ức về sự vui vẻ bên gia đình cùng với tiếng cười, ngớ ngẩn và yêu thương nhau. Cuối cùng thì với gia đình này, tình yêu phải được truyền qua tiếng cười nhiều hơn là công việc và những thành quả.
Người mẹ đích thực cần chú ý
Nhiều điều bọn trẻ nói với chúng ta.
Giả sử con bạn được hỏi: điều mà chúng thực sự muốn để thay đổi gia đình chúng là gì. Đó chính là câu hỏi dành cho 84 nghìn học sinh lớp sáu của tờ USA Weekend gần đây. Bạn nghĩ bọn trẻ nói gì là nhiều nhất?
Kết quả gần 2/3 bọn trẻ được khảo sát nói là chúng ước chúng có thể có nhiều thời gian bên bố mẹ hơn. Thực tế là hơn hai trên năm đứa trẻ cảm thấy thời gian bên mẹ chúng bị gấp gáp. Những gì bọn trẻ muốn không chỉ là nhiều thời gian hơn mà còn là thời gian thoải mái nữa. Kiểu thời gian bọn trẻ muốn nói tới ở đây chỉ đơn thuần là “thời gian vui vẻ”. Không kỳ vọng. Không áp lực. Không tập luyện. Chỉ thoải mái và vui vẻ.
Tám truyền thống gia đình phổ biến sẽ tạo nên những ký ức về gia đình vui vẻ
1. Nghĩ lễ buổi tối. Đọc truyện trước giờ đi ngủ; nhắc về những lúc vui nhất trong ngày; ôm và hôn chúc ngủ ngon.
2. Những cách chào và nói “Mẹ yêu con” đặc biệt. Chà mũi vào nhau như người Eskimo; có cách ôm riêng của gia đình
3. Ăn mừng thành công. Hãy treo một chiếc cờ ở cửa trước khi có gi đó đặc biệt đến với thành viên gia đình bạn; dùng những chiếc đĩa đẹp nhất cho bữa tối khi có thành viên nào trong gia đình bạn đã làm gì đó xứng đáng được công nhận.
4. Kỷ niệm sinh nhật. Mỗi thành viên trong gia đình sẽ chọn cho mình thực đơn cho ngày sinh nhật, chọn bánh ngọt, chọn nơi đi dã ngoại, và bài hát sẽ được dùng làm chuông báo thức ngày sinh nhật. Vài gia đình thậm chí còn treo áo của thành viên trong gia đình trên cán chổi để ở bãi cỏ trước cửa nhà để cho cả thế giới (hoặc ít nhất là hàng xóm của họ thôi) biết được đó là ngày đặc biệt của một người.
5. Thể thao và hoạt động ngoài trời. Đi câu cá vào ngày của Bố; những trò đùa vào ngày nói dối.
6. Những dự án tình nguyện vì cộng đồng. Làm thêm đồ ăn tặng người già neo đơn, bữa tối cho người lang thang cơ nhỡ, lên lịch mỗi tuần hoặc mỗi tháng một lần cả gia đình sẽ làm từ thiện ở một địa điểm nào đó.
7. Tận hưởng cuộc sống bên nhau. Trải khăn hoặc thảm ra sàn nhà, bật nhạc cả nhà cùng ưa thích, ăn sandwich đơn giản, mấy đồ ăn có thể bốc nhón, nước quả, bia ít cồn…không cần đi đâu xa, cả nhà vẫn có thể picnic tại gia cùng nhau như vậy.
8. Những trò chơi mỗi tối. Đưa ra hoặc để mọi người trong gia đình cùng gợi ý trò chơi cả nhà cùng chơi chung được như cờ tỷ phú, cá ngựa, đánh cờ vây, chơi game bóng đá,… và mỗi tuần mỗi thành viên sẽ được quyền chọn trò chơi cho cả nhà.
Nghiên cứu đã chứng mình rằng những nghi lễ buổi tối đơn giản sẽ củng cố cảm giác gắn kết với nhau của các thành viên trong gia đình thêm khoảng 20%. Hơn nữa, những truyền thống gia đình đó cũng giúp phát triển kỹ năng hòa nhập cộng đồng của đứa trẻ hơn. Vậy bạn định sẽ làm gì để lưu giữ những ký ức về khoảng thời gian bên gia đình trong con bạn?
Những truyền thống đơn giản người mẹ đích thực dùng để tạo dựng những ký ức về gì đình vui vẻ.
- Tổ chức một ngày – không – làm – gì – cả. Julie Kessel, chồng cô và hai cậu con trai ở Houston, Texas, có một nghi lễ gia đình đặc biệt mà không hề tốn kém: mỗi tháng một lần họ tổ chức một ngày – không – làm – gì – cả; trong ngày đó – họ hoàn toàn không làm gì cả. Thực ra thì hầu như là không. Họ có thể chơi trò chơi yêu thích, xem đoạn băng yêu thích của cả nhà, ăn món ăn vặt yêu thích. Bạn bè, điện thoại, những dự án đã lên lịch, bài tập về nhà, thậm chí là việc nhà cũng đều tạm hoãn hết. Tất cả những gì họ làm là quyết định đấy sẽ là ngày nào. Julie giải thích rằng “Chúng tôi có cả một ngày để gắn kết với nhau. Bọn trẻ thực sự thích nó vì chúng được quan tâm hoàn toàn mà không bị điều gì làm gián đoạn, cảm giác đó rất tuyệt.”
- Kỷ niệm bằng âm nhạc. Judy Baggott, mẹ của ba đứa trẻ ở Palm Springs, California, dùng những bài hát đặc biệt cho những dịp đặc biệt. Ví dụ như Bruce Springteen sẽ nhắc cả nhà đến ngày 4/7 bằng bài “Born in the USA” chẳng hạn. Những bài hát rộn ràng gợi nhắc đến Giáng sinh. Rồi dịp sinh nhật, sẽ là một bản nhạc của The Beatles, “Today is your Birthday…gonna have a good time” (Hôm nay là sinh nhật con… sẽ vui lắm đây..) Dù giờ bọn trẻ không còn sống ở nhà nữa, nhưng truyền thống vẫn được duy trì: mỗi thành viên trong gia đình vẫn thức dậy với giai điệu sinh nhật, chỉ là giờ chúng được phát qua điện thoại.
- Cải thiện buổi ăn gia đình. Catherine Ayala chồng cô và hai con gái ở Santa Rosa, California, đã bắt đầu một truyền thống gia đình khi con gái cô còn nhỏ; đó là bữa tối bên gia đình (càng thường xuyên càng tốt), nhưng có chút đặc biệt. “Một hôm nhà chúng tôi có khách,” bà mẹ giải thích, “và các cô con gái tôi nhìn thấy mọi thứ bài trí đẹp mắt, có nến và hoa trên bàn ăn rồi tự hỏi tại sao tôi không làm thế với chúng. Chúng đúng: tại sao tôi lại đối xử với bạn tôi tốt hơn với gia đình mình? Và từ lúc đó trở đi mọi việc đã khác: một đứa sắp bàn ăn với hoa và nến, một đứa đi bật nhạc và thấp nến. Mọi thứ đúng vào vị trí của mình rất nhanh và bầu không khí đó đã giúp chúng tôi tận hưởng được khoảng thời gian bên nhau.”
- Tái kết nối vào thời gian buổi tối. Jane Turner Micheals bắt đầu một thói quen gia đình với ba cô con gái tuổi vị thành niên của mình. Họ ăn tối cùng nhau sau đó mỗi người đi làm việc của mình. Đến chín rưỡi tối, cả nhà sẽ tập hợp lại với nhau ở phòng ăn để ăn đêm. “Chúng sẽ là của bạn trong hai mươi phút”, Jane giải thích. “Nó thực sự là một cách tuyệt vời để kết nối chúng tôi với nhau.” Sau đó mọi người sẽ chúc nhau ngủ ngon bằng: một nụ hôn, một cái ôm xoa lưng, khẳng định tình yêu của mình với những người còn lại và cuối cùng là lên giường ngủ (trong vài trường hợp là quay lại với bài tập về nhà).



0 nhận xét: